Sau khi gieo 2 con xúc xắc, em đọc số chấm trên mỗi con rồi tính tổng.
Ví dụ 1: Con xúc xắc thứ nhất được 3 chấm, con thứ hai được 5 chấm.
Tổng số chấm: \(3 + 5 = 8\).
a) \(8 \div 2 = 4\), chia hết cho 2 nên 8 là số chẵn. Sự kiện "Tổng số chấm xuất hiện trên hai con xúc xắc là số chẵn" xảy ra.
b) \(8 > 7\) nên sự kiện "Tổng số chấm xuất hiện trên hai con xúc xắc lớn hơn 7" xảy ra.
Ví dụ 2: Con xúc xắc thứ nhất được 1 chấm, con thứ hai được 2 chấm.
Tổng số chấm: \(1 + 2 = 3\).
a) \(3 \div 2\) không chia hết nên 3 là số lẻ. Sự kiện "Tổng số chấm xuất hiện trên hai con xúc xắc là số chẵn" không xảy ra.
b) \(3 < 7\) nên sự kiện "Tổng số chấm xuất hiện trên hai con xúc xắc lớn hơn 7" không xảy ra.
Lưu ý: Kết quả của em phụ thuộc vào số chấm thực tế xuất hiện sau mỗi lần gieo. Em áp dụng cách kiểm tra tương tự với kết quả lần gieo của mình.