Đặt ký hiệu:
- \(\overrightarrow{v}\): vận tốc thực tế của tàu so với bờ.
- \(\overrightarrow{v_t}\): vận tốc riêng của tàu so với dòng nước.
- \(\overrightarrow{v_n}\): vận tốc dòng nước so với bờ.
Theo quy tắc cộng vectơ:
\[\overrightarrow{v} = \overrightarrow{v_t} + \overrightarrow{v_n}\]
Gọi \(d\) là chiều rộng dòng sông. Thời gian tàu sang bờ là:
\[t = \frac{d}{v_{\perp}}\]
trong đó \(v_{\perp}\) là thành phần của \(\overrightarrow{v}\) theo hướng vuông góc với bờ.
Vì \(\overrightarrow{v_n}\) song song với bờ sông, nó không có thành phần vuông góc với bờ. Do đó:
\[v_{\perp} = |\overrightarrow{v_t}| \cdot \sin\alpha\]
trong đó \(\alpha\) là góc giữa hướng mũi tàu (hướng \(\overrightarrow{v_t}\)) và bờ sông.
Để \(t\) nhỏ nhất, \(v_{\perp}\) phải lớn nhất. Vì \(|\overrightarrow{v_t}|\) không đổi, \(v_{\perp}\) lớn nhất khi \(\sin\alpha = 1\), tức \(\alpha = 90°\).
Vậy cần giữ lái cho tàu tạo với bờ sông một góc 90° (vuông góc với bờ) để sang bờ bên kia nhanh nhất.

Khi đó, theo quy tắc hình bình hành, \(\overrightarrow{v}\) là vectơ đường chéo xuất phát từ gốc chung của \(\overrightarrow{v_t}\) và \(\overrightarrow{v_n}\), và \(\overrightarrow{v}\) có hướng vuông góc với bờ sông.