Từ hình 4.18, đọc ra các cặp cạnh bằng nhau: \(AC = ED\), \(AB = EF\), \(CB = DF\).
Kiểm tra khẳng định (2): \(\Delta ACB = \Delta EDF\)
Thứ tự tương ứng: A ↔ E, C ↔ D, B ↔ F.
\[AC = ED, \quad CB = DF, \quad AB = EF\]
Cả ba cặp cạnh tương ứng đều bằng nhau, nên \(\Delta ACB = \Delta EDF\) (c.c.c). Khẳng định (2) đúng.
Kiểm tra khẳng định (4): \(\Delta CAB = \Delta DEF\)
Thứ tự tương ứng: C ↔ D, A ↔ E, B ↔ F.
\[CA = DE, \quad AB = EF, \quad CB = DF\]
Cả ba cặp cạnh tương ứng đều bằng nhau, nên \(\Delta CAB = \Delta DEF\) (c.c.c). Khẳng định (4) đúng.
Kiểm tra khẳng định (1): \(\Delta ABC = \Delta DEF\) — thứ tự tương ứng A ↔ D, B ↔ E, C ↔ F, suy ra cần AB = DE. Nhưng từ hình AB = EF chứ không phải DE. Khẳng định (1) sai.
Kiểm tra khẳng định (3): \(\Delta BAC = \Delta DFE\) — thứ tự tương ứng B ↔ D, A ↔ F, C ↔ E, suy ra cần BA = DF. Nhưng từ hình AB = EF chứ không phải DF. Khẳng định (3) sai.
Vậy khẳng định đúng là (2) và (4).
Chú ý: Khi viết hai tam giác bằng nhau, có thể hoán đổi thứ tự đỉnh miễn là giữ đúng sự tương ứng. Ví dụ \(\Delta ACB = \Delta EDF\) cũng có thể viết thành \(\Delta CAB = \Delta DEF\) hay \(\Delta BAC = \Delta FDE\).